images377363_P1a

Xuất khẩu sản phẩm cao su còn nhiều tiềm năng

images377363_P1aMặc dù đứng ở vị trí top đầu về sản lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu, nhưng sản phẩm cao su Việt Nam vẫn chưa thực sự nổi bật trên thị trường quốc tế.

 Lượng: Tăng cao

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 8 tháng năm 2011, lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu ước đạt 454 nghìn tấn, trị giá 1,959 tỷ USD và đơn giá bình quân khoảng 4.315 USD/tấn, tăng 5,6% về lượng, tăng 66 % về trị giá và tăng 58% về đơn giá so với cùng kỳ.

 Riêng trong tháng 8-2011, lượng cao su thiên nhiên xuất khẩu ước đạt 85 nghìn tấn, trị giá 356 triệu USD, đơn giá bình quân khoảng 4.190 USD/tấn, tăng 6,2% về lượng và tăng 4,6% về trị giá so với tháng 7-2011. Tuy nhiên, đơn giá giảm khoảng 1,5 %.

Hiệp hội Cao su Việt Nam dự báo lượng cao su xuất khẩu năm 2011 sẽ tăng từ 3- 4% do sản lượng tăng. Kim ngạch xuất khẩu cao su năm nay đạt trên 3 tỷ USD (năm 2010, kim ngạch xuất khẩu cao su đạt 2,3 tỷ USD).

Bà Trần Thị Thúy Hoa, Tổng Thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết: Những tháng đầu năm, giá cả cao su tăng so với năm 2010. Cuối năm, giá cao su xuất khẩu có xu hướng giảm, nhưng vẫn đảm bảo ở mức trên 4.000 USD/tấn.

Bên cạnh những thị trường truyền thống như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… năm 2011, xuất khẩu cao su cũng mở rộng ra một số thị trường mới. Hiện nay, thị trường Ấn Độ đang có nhu cầu nhập khẩu cao su của Việt Nam.

Mặc dù là nước xuất khẩu nguyên liệu cao su thiên nhiên đứng hạng thứ 4 trên thế giới, nhưng các doanh nghiệp chế biến sản phẩm công nghiệp cao su trong nước, kể cả nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất săm lốp ô tô tại Việt Nam cũng phải nhập một phần nguyên liệu từ nước ngoài. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 8 tháng năm 2011, nhập khẩu cao su các loại phục vụ sản xuất tăng 57% so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, việc mở rộng thị trường xuất khẩu cao su vẫn còn nhiều hạn chế. Lý giải cho vấn đề này, bà Trần Thị Thúy Hoa cho biết: Một số thị trường mới vẫn chưa an toàn trong thanh toán nên các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn thận trọng khi tiếp cận các thị trường này và thường thông qua các doanh nghiệp trung gian có uy tín thanh toán đảm bảo hơn.

 Hơn nữa, do Việt Nam chưa quy định kiểm soát chất lượng của tất cả các lô hàng xuất khẩu và một số doanh nghiệp không quan tâm đảm bảo chất lượng đúng tiêu chuẩn quốc tế nên không đáp ứng được những thị trường khó tính.  “Một số doanh nghiệp lớn đã chú trọng đầu tư, áp dụng công nghệ để nâng cao và ổn định chất lượng cao su nguyên liệu, còn các doanh nghiệp nhỏ thì hạn chế trong việc đầu tư này” – bà Hoa nói.

 Chất: Tăng chậm

 Thời gian vừa qua, thông tin cao su Việt Nam bị pha tạp chất cũng đã ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu cao su. Bà Hoa cho biết: Một số doanh nghiệp đã phải mang hàng về vì gặp phải tình trạng chất lượng cao su sơ chế không đảm bảo tiêu chuẩn như hợp đồng đã ký, lẫn tạp chất cao. Còn doanh nghiệp nhập khẩu lo lắng, yêu cầu các doanh nghiệp Việt Nam phải kiểm phẩm kĩ càng.

“Đây là vấn đề đang làm chúng tôi bức xúc, vì có những nhà máy không phát hiện được chất lạ pha trộn một cách tinh vi vào nguyên liệu mủ. Đến khi xảy ra sự cố thì doanh nghiệp phải đền bù, ảnh hưởng đến uy tín chung của cả ngành cao su Việt Nam và tăng chi phí cho doanh nghiệp. Do vậy, rất cần các cơ quan quản lý vào cuộc để điều tra, xử ký nghiêm minh và ngăn chận việc gian dối trong thương mại” – bà Hoa cho biết.

 Cao su Việt Nam xuất khẩu hiện nay vẫn còn hạn chế về giá trị gia tăng vì mặt hàng xuất khẩu phần lớn ở dạng thô hoặc mới qua sơ chế. Lý giải thực tế này, đại diện Hiệp hội Cao su Việt Nam cho biết: Cũng như nhiều mặt hàng nông sản khác, cao su Việt Nam vẫn chủ yếu xuất thô bởi vì ngành công nghệ chế biến sản phẩm của Việt Nam chưa phát triển, nguồn nhân lực trình độ cao còn thiếu, trang thiết bị và vốn đầu tư còn hạn chế. Đặc biệt thị trường đầu ra cho sản phẩm cao su công nghiệp Việt Nam cũng rất khó khăn bởi sự cạnh tranh của các sản phẩm từ nước khác đã có mặt nhiều năm trên thị trường quốc tế.

 Bà Hoa chia sẻ: Trong vòng 5 năm trở lại đây, xuất khẩu sản phẩm cao su của Việt Nam luôn đạt mức tăng trưởng trên 10%/năm. Đây là điều khích lệ cho ngành, nhưng vẫn còn chậm và khiêm tốn so với tiềm năng của ngành. Thời gian tới, cần kêu gọi các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài ưu tiên đầu tư các nhà máy chế biến sản phẩm cao su, góp phần nâng cao giá trị ngành cao su Việt Nam. Ngoài ra, để hỗ trợ phát triển công nghiệp cao su Việt Nam, Nhà nước cũng cần có các chính sách hỗ trợ thiết thực đến các doanh nghiệp cũng như người trồng cao su để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định chất lượng phục vụ các nhà công nghiệp chế biến sản phẩm cao su xuất khẩu.

Lương Bằng
Nguồn: Báo Hải Quan

Leave a Reply